Chính sách đúng đắn đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Trong đường lối phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm: Đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số là đầu tư cho phát triển bền vững, nhằm thu hẹp khoảng cách về mức sống, bảo đảm quyền, cơ hội phát triển bình đẳng giữa các dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Bản Díu, xã Xín Mần, tỉnh Tuyên Quang. (Ảnh AN KHÁNH)
Điều này tạo cơ sở để xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc với quan điểm nhất quán trong toàn bộ các chủ trương, chính sách. Đó là: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Chủ trương này được khẳng định xuyên suốt trong Văn kiện Đại hội Đảng các thời kỳ cũng như các quy định của pháp luật. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định việc huy động nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số, coi đây là nhiệm vụ chiến lược nhằm xây dựng đất nước phồn vinh.
Chính sự nhất quán này đã tạo nền tảng cho hàng loạt chính sách cụ thể, như Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Trong đó xác định rõ mục tiêu: Các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải toàn diện, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội, ngày 14/10/2021 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1719/QĐ-TTg, Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.
Những kết quả này chứng minh chính sách của Đảng và Nhà nước không chỉ đầu tư vật chất mà còn xây dựng năng lực cộng đồng, giúp đồng bào dân tộc thiểu số trở thành chủ thể phát triển. Báo cáo của UNICEF và UNDP đánh giá cao chính sách giáo dục và giảm nghèo của Việt Nam dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt qua các chương trình cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số và hỗ trợ trường nội trú. Chuyên gia của UNICEF ghi nhận, Việt Nam đã đạt tiến bộ rõ rệt trong việc giảm tỷ lệ nghèo ở vùng dân tộc, với hạ tầng xã hội cải thiện. Chuyên gia của UNDP nhấn mạnh, chính sách dân tộc của Việt Nam phù hợp với Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs), giúp đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận cơ hội bình đẳng, bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế.
Ngày 14/1/2026, tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026, Bộ trưởng Dân tộc và Tôn giáo Đào Ngọc Dung nhấn mạnh, năm 2025 công tác dân tộc, tôn giáo được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị các cấp quan tâm chỉ đạo, phối hợp triển khai thực hiện, đạt được nhiều kết quả quan trọng góp phần phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong năm 2025, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo cụ thể, sát sao việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai các chính sách dân tộc, tôn giáo, trọng tâm là Chương trình mục tiêu quốc gia.
Năm 2025 công tác dân tộc, tôn giáo được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị các cấp quan tâm chỉ đạo, phối hợp triển khai thực hiện, đạt được nhiều kết quả quan trọng góp phần phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bộ trưởng Dân tộc và Tôn giáo Đào Ngọc Dung
Theo báo cáo từ Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ giảm nghèo vượt 3,4%/năm là kết quả của cách tiếp cận toàn diện: từ hỗ trợ đất sản xuất cho 13.387 hộ đến chuyển đổi nghề cho 54.899 hộ, giúp đồng bào thoát nghèo bền vững thay vì phụ thuộc vào việc cứu trợ. Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước luôn chú trọng ưu tiên nguồn lực cho vùng khó khăn, như quy định tại Nghị quyết số 88/2019/QH14, nhằm bù đắp khoảng cách lịch sử do địa lý và điều kiện tự nhiên...
Tuy nhiên, với dã tâm đen tối, các thế lực thù địch lại cố tình khai thác một số hạn chế tồn tại để xuyên tạc, bóp méo thành tựu mà Việt Nam đã đạt được. Như rêu rao đồng bào dân tộc thiểu số bị phân biệt đối xử, không được quan tâm, dẫn đến nghèo đói triền miên. Chúng còn cáo buộc Nhà nước Việt Nam hạn chế tự do tín ngưỡng, tôn giáo và chủ trương đồng hóa văn hóa, làm phai nhạt bản sắc dân tộc. Đây là sự bịa đặt trắng trợn, vì Hiến pháp 2013 và Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo 2018 nhất quán trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng. Nhà nước tạo điều kiện cho các hoạt động tôn giáo hợp pháp. Nhiều chính sách đúng đắn nhằm khuyến khích đa dạng văn hóa góp phần làm giàu nguồn lực văn hóa của quốc gia, như chương trình bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số hay việc in sách giáo khoa song ngữ cho học sinh Khmer, Chăm...
Cùng với đó, các đơn vị chức năng cần có những giải pháp cụ thể để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo. Cụ thể, cần quyết liệt đổi mới tư duy, tập trung nguồn lực, khắc phục tình trạng trùng lắp; phân cấp mạnh cho địa phương và thể hiện rõ tính công khai, minh bạch trong tổ chức thực hiện; ưu tiên tập trung đầu tư đối với địa bàn đặc biệt khó khăn. Hoàn thiện thể chế, kiện toàn, tổ chức bộ máy, chú trọng đào tạo nhân lực làm công tác dân tộc, tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và chính quyền cơ sở cần phối hợp chặt chẽ, xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá định kỳ, bảo đảm chính sách đi vào cuộc sống. Đồng thời tăng cường tuyên truyền, giáo dục để người dân tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, phát triển kinh tế, thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo đúng quy định của pháp luật, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết, bảo vệ nền tảng chế độ và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.